TOÀN ĐẢNG, TOÀN QUÂN, TOÀN DÂN HUYỆN NAM TRỰC QUYẾT TÂM XÂY DỰNG HUYỆN NAM TRỰC TRỞ THÀNH HUYỆN NÔNG THÔN MỚI NĂM 2019
Skip Navigation Links.
  Nhập từ khóa:
 Cấp Quốc Gia
  ĐỀN AN LÁ, XÃ NGHĨA AN
(+) Xem trước khi in

 

 ĐỀN AN LÁ, XÃ NGHĨA AN

Đền An Lá hay còn gọi là Đền Cả tọa lạc trên mảnh đất rộng hơn 3.000m2, thuộc thôn An Lá, xã Nghĩa An, huyện Nam Trực, cách thành phố Nam Định khoảng 4km về phía Nam. Ngôi đền nguyên trước đây nằm trên đất trại An Lá huyện Thượng Hiền. Năm 1247, Nguyễn Hiền người làng Dương A đỗ Trạng nguyên nhân dân đã tránh Húy công nên đổi huyện Thượng Hiền thành huyện Thượng Nguyên.

         

Tòa Bái đường

          Đền An Lá thờ Nguyễn Tấn – một vị tướng nhà Đinh ở thế kỷ thứ X. Nguyễn Tấn là một nhân vật lịch sử đích thực, có nhiều công lao với dân, với nước. Theo thần phả và truyền thuyết ở địa phương thì Nguyễn Tần là đời thứ 5 sống trên mảnh đất này. Ông tổ quê chính ở xã Hoàng Lão, huyện Thiên Bản (Vụ Bản) đã đi về sinh sống ở quê ngoại là trại An Lá. Bố ông là cụ Nguyễn Tần, mẹ là cụ Mai Thị Xảo. Hai vợ chồng ăn ở với nhau rất hòa thuận. Sau tám năm lấy nhau, đến ngày 10/3 năm Nhâm Dần (942) thì ông bà sinh được người con trai, hình dung tuấn tú, khí vũ hiên ngang khác với những đứa trẻ bình thường. Cụ Nguyễn Tần rất đỗi vui mừng, đặt tên con là Nguyễn Tấn. Đến lúc trưởng thành, Nguyễn Tấn học hành rất chăm chỉ và rất thông minh, võ nghệ siêu quần. Năm Nguyễn Tấn 16 tuổi, cha mẹ lần lượt qua đời. Ông chôn cất cha mẹ được mồ yên mả ấm thì gia đình khánh kiệt. Trong cảnh nghèo nàn, nhưng ông vẫn một lòng vui với đạo, ngày gió đêm trăng làm bạn với cái rìu, cái búa kiếm cớ sinh nhai và ngày ngày chăm chỉ luyện võ nên chỉ một thời gian ngắn ông trở thành người có võ nghệ cao cường, tài năng xuất chúng.

         

Sắc phong thời Nguyễn

Theo thần phả tại Đền An Lá, năm Nguyễn Tấn 21 tuổi trong cảnh đất nước bị xâu xé, các thổ hào chia nhau cắt từng vùng rồi đem quân đánh cướp lẫn nhau làm cho nhân dân vô cùng cực khổ, gọi là loạn thập nhị sứ quân. Nguyễn Tấn tụ tập quần hùng ý muốn vì dân trừ bạo. Ông đã chiêu mộ được mấy trăm quân, thường xuyên luyện võ nghệ. Nhờ có đội quân của Nguyễn Tấn mà cả vùng đất huyện Thượng Hiền dân cư đã yên ổn làm ăn.

          Ngày 10 tháng 2 năm Đinh Mão (967) tướng Kiều Công Hãn một trong các sứ quân lớn bị thất trận ở Phong Châu (Vĩnh Phú) đã cùng một số tùy tùng dùng thuyền theo sông Hồng ra biển vào Châu Ái (Thanh Hóa) để phối hợp với Ngô Xương Xí. Ông đã đi tắt qua vùng Giao Thủy để ra cửa biển Đại Nha. Khi đi qua vùng An Lá, Nguyễn Tấn đem quân đón đánh. Một phần vì mỏi mệt, một phần lại bị đói khát nên qua vài hiệp giao tranh, Kiều Công Hãn bị chém vào cổ vội phóng ngựa bỏ chạy. Ông chạy từ Vạn Diệp (nay thuộc xã Nam Phong – Thành phố Nam Định) qua làng Gin (xã Nam Dương) xuống Vũng Lẫm (xã Đồng Sơn) gặp bãi lầy mới dừng lại buộc vết thương. Tại đây có hai giọt máu của ông rơi xuống, sau này mọc thành 2 cây trò, ông nghỉ một lát rồi đi tiếp nhưng phía trước lại có quân chặn đánh, Kiều Công Hãn đành phải quay lại, tới thôn An Lũng (xã Nam Dương) ông được bà hàng nước tên là Phạm Thị Già cứu giúp, dâng rượu và gỏi cá trắm; ăn xong chạy đến làng Gin (xã Nam Dương), cởi áo chiến bào xuống đất nằm lên mà hóa. Nhân dân bốn xã Bái Dương, Tang Trữ,  Cố Lũng, Hiệp Luật đã lập đền thờ ông ngay tại nơi ông hóa.

 

Ngai thờ tại tòa Tiền đường

          Nguyễn Tấn không có ngựa nên không đuổi theo, đã cho thu toàn bộ khí giới và lương thực của Kiều Công Hãn rồi về doanh trại mở tiệc khao quân. Cùng ngày hôm đó, thành Phong Châu bị thất thủ. Quân của Nguyễn Bặc không tìm thấy Kiều Công Hãn đã cho người đuổi theo, đội quân này qua vùng đất Thượng Hiền. Nguyễn Tấn lại tưởng một sứ quân nữa đến cướp đã cho dàn trận đón đánh. Sau khi hỏi họ tên thì mới biết Nguyễn Bặc là một danh tướng của Đinh Bộ Lĩnh. Nguyễn Tấn bèn quy phục và kể lại tình hình đã diễn ra khi Kiều Công Hãn qua vùng đất An Lá. Nguyễn Tấn hợp quân với Nguyễn Bặc, trước khi kéo quân về Hoa Lư, hai ông đã mở tiệc khao quân ăn mừng. Vì không đủ bát ăn, quân lính lấy lá cây thay bát nên ở đây có tên là “Trại An Lá”. Về giúp nhà Đinh, Nguyễn Tấn có nhiều công lớn. Khi đi đánh sứ quân Ngô Xương Xí, ông đã hiến kế giúp Đinh Bộ Lĩnh lấy được thành Bình Kiều. Dẹp xong loạn mười hai sứ quân thống nhất đất nước, Vua Đinh Tiến Hoàng lên ngôi Hoàng đế phong cho Nguyễn Tấn là Thượng tướng quân tước Kiếm Nghĩa Hầu.

          Khi đất nước thanh bình, nhân dân yên vui cấy cày, Nguyễn Tấn xin triều đình trở về quê hương. Vua Đinh chuẩn tấu và cho lấy Thượng Hiền làm nơi ngụ tộc. Ông trở lại quê nhà lập hành cung ở trên đất An Lá (tức trên ngôi Đền ngày nay). Ông đã vận động nhân dân nơi khác về đây lập nghiệp, mở mang khai khẩn ruộng đất để sinh sống, đào sông dẫn nước, dạy dân cấy cày.... Nhiều dòng họ đã theo ông về đây làm ăn như họ Đào, họ Đinh, họ Tuấn, họ Tô, họ Vũ, họ Phạm.... Trong vài năm nhân dân trù phú, địa ấp phì nhiêu, của lắm vật nhiều dân cư ngày một đông đúc. Ngoài ra ông còn tuyển thêm quân lính, tổ chức luyện tập võ nghệ để khi cần thì sử dụng. Ông lại khuyến khích nhân dân đào sông, đắp đường, khai mở thêm đồng ruộng, làm cầu xây bến, đào giếng, mở chợ...Từ đó nhân dân vùng đất này đời sống ngày một thịnh vượng. Ngày nay còn nhiều địa danh gắn liền với một thời kỳ hoạt động của ông như cầu đôi, vườn cau, cẩu rửa, xóm Trung Quân, xóm Hố Lửa, xóm Trà...

Nghe tin Vua Đinh bị giết hại, Nguyễn Tấn đã tập hợp lực lượng, xây thành, đắp lũy để chiến đấu. Nhưng vì tuổi già sức yếu lại bị lâm bệnh nặng nên một thời gian sau ông đã qua đời. Nhân dân và quân lính vùng An Lá vô cùng thương tiếc nên đã làm lễ an táng ông ở vùng đất cao ráo gọi là Sùng Lăng và lập đền thờ để phụng sự ngay tại hành cung cũ. Hàng năm vào ngày ông mất, Nhà nước đều cử các quan về làm lễ. Đền thờ ông được lập tại phía Bắc của trại quân tục gọi là đền thờ Đức Thánh Cả. Mộ của ông được đặt trước đền khoảng một trăm mét thường gọi là Mả Vua.

Đền An Lá được xây dựng ngay sau khi Nguyễn Tấn qua đời. Ban đầu di tích chỉ là một ngôi miếu nhỏ. Mãi đến thời Hậu Lê, vào thời Lê Trung Hưng ngôi đền mới được xây dựng khang trang và đến thời Nguyễn đền được xây dựng hoàn chỉnh, với quy mô bề thế theo kiểu “Nội chữ tam, ngoại chữ quốc”. Đền xây dựng theo hướng Bắc, phía trước đền có một giếng hình bán nguyệt. Theo nhân dân kể lại, giếng này có từ thời Nguyễn Tấn đóng quân ở đây, bên cạnh giếng ở phía Tây có một cây đa cổ thụ tỏa bóng mát xuống đáy giếng. Từ giếng nhìn vào là bức bình phong cao 2m, rộng 1,70m được trang trí họa tiết hình Long mã trông rất khỏe đẹp. Tiếp đó là cổng vào sân đền, hai bên cổng là hai cột đồng trụ. Hai cột đồng trụ có nét độc đáo khác hẳn với những cột đồng trụ khác ở Đền An Lá là xây mộc không trát, các họa tiết trang trí được đắp nổi, cả hai cột phần ngọn là hai hình nụ sen cách điệu, trông xa như hai cây bút vậy, dưới chân cột ở phía trong đắp hai con hổ ngồi chầu. Hai bên Đông, Tây của cổng chính có hai tòa lâu các, dùng làm nơi chấn giải đấu cờ, thi hát... Trong các dịp hội hè, lễ tết Tòa Bái đường gồm 5 gian chính và 2 gian phụ với 4 vì chồng rường nằm trên 4 hàng cột, bao gồm 20 cột cái và 20 cột quân. Kiến trúc tòa Bái đường mang rõ phong cách của hai hiệp thợ khác nhau. Đề tài trang trí ở đây chủ yếu là hình Rồng thể hiện ở nhiều tư thế khác nhau. Ngoài ra còn có nhiều mảng chạm khắc trang trí đề tài Phượng múa, Phượng hàm thư, Long Ly vờn nhau. Đặc biệt là hai đầu của tòa này, các trái có gắn bạo vào cột, phía dưới là sân gỗ Lim. Mỗi bên sân được chia thành bậc cao thấp khác nhau. Đây chính là nét đặc trưng của các đình làng Việt Nam, là chỗ hội họp và chính đây là vị trí thứ bậc trong làng xã trước cách mạng tháng Tám năm 1945.

                                                                                                        

Chạm khắc thời Hậu Lê tại tòa Tiền đường

Tòa đệ nhị nằm cách tòa Bái đường một khoảng sân hẹp, có 5 gian, dáng  thấp. Tòa này có 8 cột cái và 12 cột quân; cột cái được sơn son vẽ hình Long Vân. Các vì kèo, bẩy cũng được trang trí theo phong cách của hai hiệp thợ với tay nghề khác nhau. Nửa phần ở phía Đông đơn giản mộc mạc hơn nửa phía Tây. Vì kèo hai ở đầu trên xà giá chiêng đấu soi, câu đầu soi ống, xà lòng soi ống kẻ, xà lách chạm bong Rồng thời Hậu Lê. Vì kèo ba giá chiêng đấu soi, còn câu đầu chạm lá lật cách điệu. Tại hệ thống bẩy tiền, nửa phía Đông chạm lưỡng Long ngậm ngọc, trúc hóa Long, Long Phượng vờn nhau; nửa phía Tây chạm mặt hổ phù, Long Vân là hình lá lật cách điệu. Mặt trước tòa này, đằng trước là hệ thống cánh cửa có chân quay. Ở đây còn để lại một số mảng chạm khắc thời Hậu Lê (Thế kỷ 17 – 18).

 

Cột đồng trụ

 

 Quán tẩy thời Nguyễn

Tòa chính tẩm ba gian gồm 4 hàng cột với 8 cột cái và 8 cột quân, cột cái được sơn son vẽ hình Long Vân, cột quân để mộc với những chân tảng đá rất thấp, xà nách sơn son, chạm rồng mang phong cách thời Nguyễn và họa tiết lá lật cách điệu. Chính tấm có cửa bức bàn, nền lát gạch vuông, hiên lát gạch chất, trong đó có nhiều viên gạch thời Hậu Lê.

 

Quang cảnh rước lễ

Lễ hội Đền An Lá, là một trong những lễ hội lớn của huyện Nam Trực. Lễ hội diễn ra trong 3 ngày từ mùng 9 đến ngày 11 tháng 3 âm lịch hàng năm. Với những nghi lễ truyền thống như lễ mở cửa đền, lễ cài mã, lễ cáo yết, tổ chức rước lễ, lễ dâng hương, lễ Đại tế, lễ tạ... được đông đảo nhân dân tham gia. Ngoài ra còn có các trò chơi dân gian phong phú cờ tướng, kéo co, chọi gà, đi cầu kiều, bịt mắt bắt vịt.... và các diễn xướng nghệ thuật dân gian hát chèo, hát văn, múa rối nước... thu hút đông đảo nhân dân trong vùng cùng khách thập phương quây quần tụ họp dưới mái đình cổ kính cùng tham gia và hưởng thụ những sinh hoạt văn hóa dân gian đặc sắc.

 

Múa rối nước

 

   Thi đấu Cờ tướng

Đền An Lá, xã Nghĩa An là một trong những ngôi đền có niên đại sớm vào khoảng thế kỷ 17. Đây là một công trình kiến trúc mang giá trị lịch sử văn hóa. Đền thờ Nguyễn Tấn người con quê hương An Lá, một vị tướng thời Đinh có công giúp Vua dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước và là người có công lớn trong việc mở mang và phát triển làng An Lá. Từ khi ra đời đến nay, ngôi đền đã trải qua hơn 400 năm tồn tại, là nơi lưu giữ nhiều di sản văn hóa có giá trị. Từ các cấu kiệu kiến trúc, các mảng chạm khắc, đề tài trang trí đến các hiện vật như: sắc phong, ngai thờ, bài vị, hương án.... Tất cả đã tạo nên những bức tranh vô cùng sinh động phản ánh cuộc sống, bình dị của người dân thôn quê cùng những ước mơ khát vọng của họ về một xã hội công bằng, bình đẳng, ấm no, hạnh phúc, ước vọng, cầu nước của dân cư nông nghiệp và là những di sản vô cùng quý báu có giá trị giáo dục rất cao cũng như góp phần tìm hiểu lịch sử anh hùng của mảnh đất Nam Trực xưa./.

 

Siêu tầm và biên soạn: Trần Duy Huyền

Ảnh:     Ngọc Thịnh